Tha ᴄʜếᴛ cho 4 lính Mỹ, nữ du kích Củ Chi không ngờ 23 năm sau ᴋẻ ᴛʜù năm xưa ôm dép bà bật khóc làm rung động triệu trái tim

Tôi là Võ Thị Mơ – Bảy Mơ. Sinh năm 1947 ngay tại Củ Chi, mảnh đất mà quân đội Mỹ gọi là “tọa độ hủy diệt”. Diện tích chưa đến 40 cây số vuông, nhưng bom đạn ném xuống đây còn nhiều hơn cả Berlin trong Thế chiến thứ hai. Cha mẹ tôi đều là cán bộ khởi nghĩa kháng Pháp. Cả 11 anh chị em tôi đều tham gia kháng chiến từ tuổi thiếu niên. Ngôi nhà của chúng tôi cũng là ụ chiến đấu của quân giải phóng trong lòng địa đạo Củ Chi.

13 tuổi, tôi được tuyển làm giao liên cho Tiểu ban điệp báo – Ban an ninh Trung ương Cục. 15 tuổi, tôi làm ấp đội phó du kích, rồi xã đội phó. Có người đã nói: “Có đồng chí Mơ là tôi an tâm, không sợ bị bỏ lại trận địa.” Năm 19 tuổi, tôi được bầu làm trung đội trưởng nữ du kích Củ Chi. Cũng năm đó, tôi được tặng danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú” – diệt được từ 10 lính Mỹ trở lên.

Thế nhưng, điều khiến tôi nhớ nhất đời mình không phải là những trận đánh ác liệt, mà là một khoảnh khắc… tôi đã không bóp cò.

Tháng 1 năm 1966, Mỹ mở chiến dịch “Bóc vỏ Trái Đất” vào Củ Chi. Hàng chục nghìn quân, xe tăng, pháo binh, máy bay B52 dội bom như trút. Tôi được giao chỉ huy đội nữ du kích giữ trận địa Nhuận Đức. Buổi sáng hôm ấy, một tiểu đoàn Mỹ đánh thẳng vào trận địa của tôi. Địa hình hiểm trở, hầm chông ngụy trang khắp nơi. Quân tôi chỉ hơn 30 tay súng, vũ khí thô sơ. Nhưng chúng tôi đánh du kích – bám địa hình, đánh bất ngờ. Quân Mỹ sau hai giờ bị bắn tỉa, thiệt hại hơn 20 người mà không thấy mặt đối thủ, đành rút lui.

Đến 2 giờ 30 chiều, qua ống ngắm khẩu súng trường, tôi thấy lần lượt bốn người lính Mỹ bò ra từ bụi dậm. Họ trải một tấm vải dù ngay trước ụ chiến đấu của tôi – chỉ cách vài chục mét. Bốn người ngồi bốn góc, khui đồ hộp đặt giữa, rồi lấy thư, hình ảnh vợ con ra xem. Rồi họ ôm nhau khóc nức nở. Sau đó, họ đốt những lá thư và hình ảnh ấy ngay trước mặt tôi.

Lúc đó, chiến sĩ liên lạc của tôi – vốn đang thèm danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ” – nôn nóng đòi bắn. “Chị Bảy, cho em nổ súng! Bốn thằng ngay trước mũi súng!”

Tôi nhìn qua khe hở của ụ đất, nhìn bốn người lính trẻ đang khóc như những đứa trẻ. Họ đốt thư, đốt ảnh – có lẽ đó là thư và ảnh của những người bạn vừa chết trong trận đánh buổi sáng. Những người lính còn sống đang khóc cho những người đã ngã xuống.

Tôi nói với chiến sĩ liên lạc: “Khoan. Chưa bắn.”

“Sao ạ?”

“Em nhìn họ kìa. Họ đang khóc. Họ cũng có vợ, có con, có mẹ già ở nhà chờ. Họ không cầm súng bắn vào mình. Mình không thể bắn người đang khóc.”

Tôi không cho nổ súng. Bốn người lính Mỹ khóc chán, rồi lủi thủi rút đi. Họ để lại đống đồ hộp chưa ăn hết. Chiến sĩ liên lạc của tôi tiếc ngẩn ngơ – không được lấy danh hiệu, đành ôm đống đồ hộp về báo cáo với chi bộ: “Chị Bảy không cho bắn giặc!”

Tối hôm đó, chi bộ họp. Ông bí thư đùng đùng quát mắng tôi: “Đồng chí Bảy Mơ! Tại sao không tiêu diệt sinh lực địch khi có cơ hội?”

Tôi đứng im, không cãi. Tôi chỉ nói: “Tôi thấy họ đang khóc. Họ không cầm súng. Tôi không thể.”

Ông bí thư nhìn tôi, rồi im lặng. Không khen, không chê, cũng không kỷ luật. Cuộc họp chuyển sang nội dung bố trí đội hình đánh địch vào sáng hôm sau.

Tôi tưởng câu chuyện chìm vào im lặng.

Nhưng đêm hôm đó, có một người tên Ba Một – cán bộ du kích – đã chạy sang hàng ngũ địch xin đầu hàng. Hắn khai báo cách bố trí lực lượng chiến đấu của chúng tôi. Rồi hắn kể chuyện tôi tham mạng cho bốn lính Mỹ.

Một trong bốn người lính đó – John Picas – đã tiếp cận tên Ba Một để hỏi chi tiết. Và John Picas đã ghi chép câu chuyện ấy vào sổ tay cá nhân như một ân nghĩa với người phụ nữ du kích bên kia chiến tuyến.

Từ câu chuyện đó, John Picas nung nấu tư tưởng chống đối cuộc chiến tranh phi nghĩa. Câu chuyện về John Picas và ba người lính Mỹ được nữ du kích tham mạng lan khắh các doanh trại của Sư đoàn 1 Mỹ – góp phần tác động tâm lý, làm bãi chiến trong chính sư đoàn đó.

Năm 1970, tôi được rút về làm phó huyện đội trưởng Củ Chi, rồi được tướng Nguyễn Thị Định cho đi học quân sự tại Trường Sĩ quan Lục quân miền Nam. Sau ngày thống nhất, tôi tiếp tục giảng dạy tại trường cho đến năm 1978. Sức khỏe yếu, kinh tế gia đình quá khó khăn, tôi phải xuất ngũ với quân hàm trung úy.

Khẩu súng K54 của tôi được trưng bày tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam.

Quen chiến đấu, tôi không hòa nhập kịp với cuộc sống đời thường. Tôi bươn chải đủ thứ nghề kiếm sống, trôi dạt về tận Tây Ninh, sống trong cảnh thiếu trước hụt sau.

Còn John Picas – sau khi trở về Mỹ – đã trở thành nhà văn và tích cực tham gia vào làn sóng phản đối chiến tranh Việt Nam. Năm 1985, ông trở lại Việt Nam, đến Củ Chi tìm ân nhân – người nữ du kích đã không bắn ông và đồng đội ngày ấy. Nhưng không ai biết tôi trôi dạt nơi đâu.

Đầu năm 1989, John Picas liên kết với nhà báo, đạo diễn truyền hình Tom Mangold – một người Anh nổi danh khắp thế giới với các loạt phóng sự điều tra chiến tranh. Họ cho xuất bản cuốn sách “The Tunnels of Cu Chi”. Cuốn sách ca ngợi cuộc chiến đấu chính nghĩa, nhân văn của nhân dân Việt Nam qua hình tượng những người du kích Củ Chi. Nó dành hẳn một chương để kể về tôi – nữ du kích đã tham mạng cho bốn lính Mỹ. Cuốn sách trở thành sách bán chạy nhất ở Anh và Mỹ, được các nhà xuất bản lớn trên toàn thế giới tái bản hàng triệu bản.

Giữa năm 1989, John Picas và Tom Mangold trở lại Củ Chi lần nữa, quyết tâm tìm cho bằng được tôi. Sau cả tháng ròng rã hỏi han, cuối cùng họ tìm thấy tôi tại Bệnh viện Tây Ninh. Tôi kiệt sức vì chống chọi với cái nghèo.

Họ nhờ Sở Ngoại vụ Tây Ninh tổ chức một cuộc đón tiếp long trọng tại một khách sạn của Công ty Du lịch Tây Ninh để tặng sách. Khi đến nơi, thấy tấm thảm đỏ trải dài, tôi rụt rè, đứng nép bên ngoài không dám bước vào.

John Picas vội quỳ sụp xuống, ôm đôi dép của tôi – đôi dép cao su đã mòn vẹt – rồi nói: “Bà là ân nhân của tôi. Ở đây, bà là người quan trọng nhất.”

Tôi bối rối không biết làm gì. Một người lính Mỹ ngày xưa, nay quỳ trước mặt tôi, ôm dép tôi mà khóc.

Sau cuộc trò chuyện, khi quay phim tài liệu, John Picas hỏi tôi một câu: “Bây giờ bà mong muốn gì? Bà có muốn tôi giúp bà một số tiền để cất nhà không?”

Tôi nhớ lúc đó mình đang khổ gần chết, trong bụng thèm nói “tôi cần tiền” lắm. Tôi suy nghĩ lung lắm. Nếu nhận tiền, nó sẽ khinh mình. Đánh đo suy nghĩ hồi lâu, tôi trả lời bằng giọng mộc mạc của một người đàn bà đất thép:

“Tôi không cần tiền. Tôi cần đất nước hòa bình, không ai xâm lược ai. Nếu ai xâm lược, tôi sẽ hô hào con cháu đánh nữa.”

John Picas lặng người. Tom Mangold – nhà báo từng đi qua bao chiến trường – cũng rơi nước mắt.

Và rồi họ quay phim, ghi lại những lời tôi nói. Đoạn phim ấy lan tỏa khắp thế giới. Một nữ du kích Việt Nam nghèo khổ, từ chối tiền bạc chỉ vì không muốn bị khinh – và chỉ mong đất nước hòa bình.

Cuộc đời tôi sau đó được nhiều người biết đến. Nhờ đồng đội giúp đỡ, tôi có một căn nhà khang trang và mảnh vườn cây ăn trái ở ấp Phú Lợi, xã Phú Mỹ Hưng, Củ Chi. Cuộc sống tạm ổn định. Tôi đang được đề nghị xét tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Ngày 23 tháng 11 năm 2014, Nhà hát Kịch Thành phố Hồ Chí Minh thi diễn vở “Khát vọng hòa bình”. Dưới khán đài, tôi – nguyên mẫu của nhân vật chính – ngồi xem lại tuổi thanh xuân của mình trên sân khấu. Tác giả Ngọc Trúc đã viết: “Tôi viết lại cuộc đời bà với góc nhìn của thế hệ hôm nay, để qua đó lan tỏa tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường và trên hết là tinh thần nhân văn của người dân Việt Nam.”

Người ta thường hỏi tôi: “Bây Mơ ơi, sao hồi đó bà không bắn bọn thằng Mỹ? Lỡ chúng nó bắn bà trước thì sao?”

Tôi chỉ cười. Tôi không biết giải thích thế nào. Tôi chỉ biết rằng lúc đó, nhìn bốn người lính trẻ khóc nức nở bên đống lửa, tôi thấy họ cũng là người – cũng có mẹ, có vợ, có con. Họ không cầm súng. Họ chỉ đang thương nhớ những người bạn vừa chết. Tôi không thể bóp cò.

Ngày xưa, trong chiến hào, có lần tôi và đồng đội đón Tết trong địa đạo. Chúng tôi không biết Tết đến lúc nào. Chỉ khi nhận được ít bánh tét, bánh chưng từ người nhà gửi vào, chúng tôi mới biết Tết đã sang. Chúng tôi chia nhau từng miếng bánh, đọc từng mẩu tin từ thư của người nhà – dù không phải thư của mình, nhưng vẫn tưởng tượng ra khung cảnh ăn Tết ngoài kia.

Khổ nhất là những ngày đứng hầm để theo dõi địch. Đất vùng ngoài là đất ruộng, trũng nước. Chúng tôi đào hầm đứng, nước ngập lên tận cổ. Đội nắp hầm lên đầu, đứng im một tư thế hàng tháng trời, không được nhúc nhích kẻo địch phát hiện. Nói gì đến ăn Tết.

Vậy mà tôi còn sống. Vậy mà tôi còn được gặp lại người lính năm xưa, được nghe ông ta quỳ xuống nói “bà là ân nhân của tôi”.

Tôi không nghĩ mình là ân nhân của ai. Tôi chỉ là một người đàn bà Việt Nam, làm những gì lương tâm mách bảo giữa chốn chiến trường khốc liệt. Và lương tâm ấy đã nói với tôi: đừng bắn người đang khóc.

LƯU Ý : Câu chuyện này hoàn toàn hư cấu, không dựa trên bất kỳ sự kiện hay cá nhân có thật. Mục tiêu: khai thác tâm lý, góc khuất xã hội để truyền tải thông điệp nhân văn, cảnh báo về những bi kịch ẩn sau cuộc sống thường ngày. Chúng tôi không ủng hộ mọi định kiến vùng miền, giới tính, tôn giáo hay tầng lớp. Hãy đón nhận bằng sự thấu hiểu – không phải định kiến.


© 2026 chuyenthienha.com
Nội dung thuộc bản quyền website. Vui lòng ghi rõ nguồn khi sao chép.

Lên đầu trang